Góc truyền thông - Giáo dục sức khỏe

Suy thai cấp trong chuyển dạ
[ Cập nhật vào ngày (02/03/2016) ]

Suy thai cấp chiếm tỷ lệ 37-52% trong các cuộc chuyển dạ. Tình trạng này xảy ra đột ngột cần phải xử trí cấp cứu, và là nguyên nhân của 1/3 số trường hợp tử vong chu sinh. Nếu không xử trí kịp thời, hậu quả có thể để lại những di chứng lâu dài đến sự phát triển tâm thần, vận động của trẻ.


Suy thai cấp trong chuyển dạ là một tình trạng thiếu oxy đến thai khi có cơn co tử cung gây toan hóa máu thai, đe dọa đến sự sống và sức khoẻ của thai nhi.

1. Nguyên Nhân

Bao gồm 3 nhóm nguyên nhân chính: Nguyên nhân từ mẹ, do thai và các phần phụ của thai

Mẹ

Thai

Phần phụ của thai

- Suy tim

- Suy hô hấp

- Thiếu máu nặng

- Tăng huyết áp

- Đái tháo đường

- Dị tật bẩm sinh

- Thai chậm tăng trưởng trong tử cung

- Thai non tháng

- Nhau bong non

- Nhau tiền đạo

- Nhau bị thoái hóa trong thai quá ngày

- Sa dây rốn

- Dây rốn thắt nút, dây rốn quấn cổ.

2. Chẩn Đoán

Việc chẩn đoán suy thai thường dễ. Nếu có 2 trong các triệu chứng lâm sàng thì tỷ lệ chẩn đoán suy thai chính xác đến 80%. Ngoài ra, cần phối hợp với phương tiện cận lâm sàng (monitoring thai) để có được chẩn đoán chính xác hơn. Tuy nhiên, không có một cận lâm sàng nào có thể chẩn đoán suy thai cấp chính xác 100%.

a. Lâm Sàng:

Nước ối có lẫn phân su:

- Nước ối có màu xanh: Chứng tỏ tình trạng thiếu oxy thai mới xảy ra, đặc biệt có giá trị nếu nước ối mới đổi màu trong chuyển dạ(từ màu trắng đục chuyển sang màu xanh).

- Nước ối có màu vàng: Tình trạng thiếu oxy thai xảy ra trong một khoảng thời gian đã lâu→ Có thể có hay không có suy thai cấp.

Nước ối lẫn phân su dễ gây nhiễm trùng ối và làm nặng thêm tình trạng ngạt sau sanh do thai nhi hít phải nước ối.

Tim thai thay đổi: Bình thường nhịp tim thai dao động trong khoảng 120-160 lần/ phút. Nếu tim thai <120 hoặc >160 lần/phút hoặc dao động không đều cũng là một dấu chứng gợi ý một tình trạng suy thai.

Cử động thai hỗn loạn: Triệu chứng này khó biết và thường xảy ra trễ

b. Cận Lâm Sàng:

Monitoring thai: Cho phép ghi nhận những biến đổi của nhịp tim thai cùng với cơn co tử cung. Nhịp tim thai chậm hoặc không đều có tiên lượng xấu hơn so với nhịp tim thai nhanh.

- Nhịp giảm sớm (Dip I): Do phản xạ thần kinh khi đầu thai nhi bị chèn ép vào tiểu khung ở mỗi cơn co.

- Nhịp giảm muộn (Dip II): Dấu chứng của một tình trạng suy giảm tưới máu tử cung – nhau.

- Nhịp giảm bất định (Dip III): Nguyên nhân thường do dây rốn bị chèn ép.

Đo độ PH da đầu thai nhi: không thường thực hiện trên lâm sàng vì là phương pháp xâm lấn và có biến chứng tụ máu dưới da đầu.

Soi ối

: Có thể kiểm tra màu sắc của nước ối ngay giai đoạn đầu của chuyển dạ bằng phương pháp soi ối. Bình thường nước ối trong hoặc có lẫn ít chất gây. Nước ối xanh hoặc lẫn phân su là có biểu hiện của suy thai.

  

3. Diễn Tiến

a. Tốt: Sau hồi sức tình trạng suy thai chấm dứt. Tuy nhiên vẫn phải theo dõi sát tim thai cho đến khi sau sanh.

b. Xấu: Toan hô hấp sẽ dẫn đến toan chuyển hóa, khó điều chỉnh. Cần chấm dứt thai kỳ bằng cách mổ lấy thai ngay. Chỉ số Appgar thấp sau sanh thường có những di chứng thần kinh về sau.

4. Dự Phòng

- Cần phát hiện sớm những trường hợp thai chậm tăng trưởng trong tử cung, các bệnh lý của mẹ để có hướng xử trí thích hợp.

- Tránh chuyển dạ kéo dài

- Chuẩn bị sẵn các phương tiện hồi sức sơ sinh trong những trường hợp thai có nguy cơ cao.

- Nếu tim thai không cải thiện sau hồi sức từ 15-30 phút cần phải mổ lấy thai.




Khoa Sanh - Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ